14/08/2026
NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG ĐÃ BÁO TRƯỚC ĐÚNG THỜI HẠN QUY ĐỊNH, NHƯNG SAU ĐÓ CHỈ ĐI LÀM 2-3 NGÀY RỒI TỰ Ý BỎ VIỆC. HỆ QUẢ PHÁP LÝ CỦA HÀNH VI NÀY?
Về mặt pháp lý, hành vi trên được xác định là người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
1. Bản chất hành vi vi phạm của NLĐ
Vi phạm nghĩa vụ thực hiện HĐLĐ: Trong thời gian báo trước, HĐLĐ giữa hai bên vẫn đang có hiệu lực pháp luật. NLĐ có nghĩa vụ phải thực hiện công việc theo HĐLĐ đã giao kết, chấp hành kỷ luật lao động, nội quy lao động, tuân theo sự quản lý điều hành và giám sát của NSDLĐ cho đến ngày chấm dứt HĐLĐ chính thức.
Vi phạm thời hạn báo trước thực tế: Việc báo trước chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ là NLĐ phải làm việc thực tế cho đến hết thời hạn báo trước đó (trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác).
=> Nghỉ việc chỉ sau 2-3 ngày đồng nghĩa với việc NLĐ đã không tuân thủ thời hạn báo trước theo quy định tại khoản 1 Điều 35 BLLĐ 2019.
Vì vậy, NLĐ chấm dứt HĐLĐ không đúng quy định về thời hạn báo trước được coi là đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật (Điều 39 BLLĐ 2019).
Bởi vì khoảng thời gian báo trước được pháp luật quy định chính là khoảng thời gian để NSDLĐ chủ động sắp xếp nhân sự thay thế, tổ chức bàn giao công việc và bảo đảm chuỗi sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn đột ngột. Chính vì vậy, việc NLĐ tự ý bỏ việc không chỉ là hành vi vi phạm HĐLĐ đã giao kết, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến tính ổn định vận hành của doanh nghiệp.
2. Chế tài xử lý
Khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật, NLĐ phải thực hiện các nghĩa vụ được quy định tại Điều 40 BLLĐ 2019:
a) Không được trợ cấp thôi việc: NLĐ hoàn toàn mất quyền nhận trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 BLLĐ 2019;
Thông thường khi chấm dứt HĐLĐ hợp pháp, NLĐ đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên sẽ được NSDLĐ chi trả trợ cấp thôi việc, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác).
=> Đây là khoản tiền tích lũy từ thâm niên và đóng góp của NLĐ. Chế tài tước bỏ trợ cấp thôi việc là một hình thức phạt hành chính đánh thẳng vào quyền lợi vật chất tích lũy dài hạn của NLĐ, nhằm răn đe các hành vi nghỉ việc tùy tiện.
b) Phải bồi thường cho NSDLĐ nửa tháng tiền lương theo HĐLĐ;
c) Phải bồi thường cho NSDLĐ một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo HĐLĐ trong những ngày không báo trước;
Cách tính: Khoản tiền này được tính dựa trên số ngày còn lại của thời hạn báo trước luật định mà NLĐ đã tự ý nghỉ không đi làm (Ví dụ: Thời hạn báo trước quy định là 30 ngày, NLĐ mới làm được 3 ngày đã nghỉ thì phải bồi thường tiền lương tương ứng với 27 ngày còn lại).
d) Phải hoàn trả cho NSDLĐ chi phí đào tạo (nếu có): NLĐ phải hoàn trả chi phí đào tạo theo quy định tại Điều 62 BLLĐ 2019.
- Nghĩa vụ này chỉ xuất hiện khi xảy ra đồng thời cả 3 điều kiện dưới đây:
+ Hai bên ký kết hợp đồng đào tạo nghề;
+ NLĐ được đào tạo nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, đào tạo lại ở trong nước hoặc nước ngoài từ kinh phí của NSDLĐ, kể cả kinh phí do đối tác tài trợ cho NSDLĐ;
+ NLĐ vi phạm cam kết về thời hạn làm việc sau khi được đào tạo.
- Phạm vi chi phí đào tạo phải hoàn trả: Chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, các chi phí khác hỗ trợ cho người học và tiền lương, tiền đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người học trong thời gian đi học. Trường hợp NLĐ được gửi đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao gồm chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trong thời gian đào tạo (Khoản 3 Điều 62 BLLĐ 2019).
=> Theo Điều 59 BLLĐ 2019, pháp luật thừa nhận quyền được đào tạo nghề nghiệp và phát triển kỹ năng nghề của NLĐ. Nhưng pháp luật cũng cho phép NSDLĐ có quyền thu hồi khoản chi phí đào tạo đó khi NLĐ phá vỡ thời hạn cam kết phải làm việc sau khi được đào tạo bằng một hành vi trái pháp luật.