02/06/2026
TỪ KHI NÀO CÚI XUỐNG ĐỜI NHAU CŨNG PHẢI BĂN KHOĂN?
Tác giả: Ngọc Trần
Vỉa hè đường Kim Mã lúc 19h. Một em bé ốm. Một người đàn ông gầy. Một hộp cháo ăn liền bốc còn bốc khói. Và một chiếc xe đạp cũ kỹ.
Đứa bé nằm tựa vào vai cha, mặt đỏ ửng vì sốt, thi thoảng lại ho khan. Người đàn ông ngồi xổm bên cạnh, kiên nhẫn thổi từng thìa cháo cho con. Bên cạnh là vỉ thuốc đã bóc dở.
Xe tôi đã đi qua được một đoạn. Nhưng có một thứ trong lòng cứ kéo lại.
Tôi phải thú thật một điều không lấy gì làm dễ chịu: phản xạ đầu tiên của tôi khi nhìn thấy cảnh ấy không phải là thương. Mà là nghi ngờ.
Bởi vì tôi đã quá quen rồi. Quen với câu chuyện bà lão ôm con chó, hôn lên đầu nó, khóc lóc nói rằng nhà nghèo quá phải bán đứa "con" cuối cùng, để rồi mai lại thấy chính con chó ấy, chính bà lão ấy, diễn y nguyên vở kịch ở một góc phố khác. Quen với bà cụ bán mấy quả chanh héo bên đường mà đằng sau là cả một đường dây. Quen với những đứa trẻ được "thuê" để ngồi xin, những vết thương được vẽ bằng màu nước, những hoàn cảnh được dàn dựng tỉ mỉ đến mức người tử tế phải xấu hổ vì lòng tốt của mình.
Chúng ta đã bị lừa nhiều đến mức lòng trắc ẩn không còn được phép bật ra một cách tự nhiên nữa. Nó phải đi qua một cửa kiểm soát. Phải trả lời cho xong một loạt câu hỏi: Thật hay giả? Có phải kịch không? Mình có đang bị lợi dụng không? Người ta sẽ cười mình ngây thơ chứ?
Và cái cửa kiểm soát ấy, oái oăm thay, lại chặn đứng đúng những người đáng được giúp nhất. Vì kẻ lừa đảo thì chuyên nghiệp, biết cách làm cho nỗi khổ trông thật. Còn người khổ thật thì thường vụng về, chẳng biết trình bày, chẳng biết kêu rên.
Nhắm mắt đi qua lại không đành lòng, tôi rủ anh Grab vòng lại cả quãng đường. Người đàn ông bảo, hai cha con ở Bắc Ninh, con đang sốt, vợ c/hết, chờ con ăn hết cháo thì chở con về Bắc Ninh. Tôi cũng chẳng muốn thắc mắc sao con ốm lại chở ra Hà Nội, ngồi vỉa hè ăn cháo, dãi thuốc bên cạnh, sợ hỏi nhiều lại nghi ngờ. Biếu 100.000 đồng bảo thôi anh cho cháu về, đừng ngồi sương lạnh em bé lại ốm thêm. Anh Grab rút 10.000 đồng bảo anh chẳng có nhiều. Chú đi đường dừng lại cho thêm 55.000 đồng.
Trên đường về, tôi cứ nghĩ mãi một câu: Từ khi nào chúng ta muốn cúi xuống đời nhau cũng phải băn khoăn như vậy?
Từ khi nào việc đưa tay ra với một người lạ lại trở thành một quyết định cần cân nhắc thiệt hơn? Từ khi nào lòng tốt phải mang theo cả nỗi sợ bị biến thành trò cười?
Tôi không trách những người đã chai lì. Bị lừa một lần, hai lần, mười lần, ai mà không xót của, xót cả niềm tin của mình. Sự đề phòng ấy là cách con người tự bảo vệ trong một thế giới mà sự thương cảm bị đem ra buôn bán. Nhưng tôi sợ một điều: sợ rằng đến một ngày, vì sợ bị lừa năm lần, chúng ta sẽ bỏ lỡ những con người thật sự cần mình. Và cái giá của việc bỏ lỡ một người khổ thật, đôi khi, lớn hơn nhiều cái giá của việc bị một kẻ gian lừa mất vài chục nghìn.
Có lẽ vấn đề không nằm ở chỗ chúng ta nên cả tin hay nên cảnh giác. Mà nằm ở chỗ: ngay cả khi không chắc chắn, ta vẫn chọn cho đi. Bởi vì một trăm nghìn đặt nhầm vào tay kẻ lừa đảo thì cũng chỉ là một trăm nghìn. Nhưng một trăm nghìn đặt đúng vào tay người cha đang thổi cháo cho con sốt giữa đêm lạnh, đó có thể là hơi ấm, là chuyến xe về nhà, là một đêm bớt cô độc của hai cha con.
Tôi chọn cách nghĩ rằng: nếu phải sai, thà sai về phía của lòng tốt. Thà bị lừa mất một chút, còn hơn để mình trở thành một người chưa kịp thương đã vội ngờ.
Và tôi nghĩ, chừng nào trên những vỉa hè vẫn còn người dừng xe quay lại, chừng nào anh xe ôm vẫn rút mười nghìn cuối cùng trong túi mình ra, thì câu hỏi "từ khi nào cúi xuống đời nhau cũng phải băn khoăn" vẫn còn có một câu trả lời để hy vọng.